Chương 25 — Y giới có tổ chức và vitamin¶
Mười lăm năm trước, khi tôi đang viết cuốn Vitamin C and the Common Cold (Vitamin C và bệnh cảm lạnh thông thường), tôi rất hài lòng với bản thân. Tôi đã có nhiều khám phá trong hóa học và các lĩnh vực khoa học khác, thậm chí còn có một vài đóng góp cho y học, dù chưa rõ liệu những đóng góp ấy có tác động lớn đến việc làm giảm bớt nỗi đau khổ do bệnh tật gây ra hay không. Giờ đây, tôi nghĩ, tôi đã biết được một điều có thể phần nào làm giảm bớt nỗi đau khổ cho hàng chục triệu, thậm chí hàng trăm triệu người — một điều mà các nhà khoa học khác và một số thầy thuốc đã từng để ý đến, nhưng vì lý do nào đó lại bị bỏ qua.
Tôi nghĩ rằng tất cả những gì mình cần làm là trình bày các sự kiện một cách giản dị, thẳng thắn và logic, để các thầy thuốc và mọi người nói chung sẽ chấp nhận chúng. Tôi đã đúng, trong kỳ vọng này, về phía công chúng, nhưng đã sai về phía các thầy thuốc — hay có lẽ không phải sai về các thầy thuốc với tư cách cá nhân, mà sai về y giới có tổ chức.
Một số lượng khiêm tốn trong toàn bộ thầy thuốc Hoa Kỳ, có lẽ 1 phần trăm, hiện đang hành nghề y học chỉnh phân tử và tự gọi mình là thầy thuốc chỉnh phân tử. Họ vẫn sử dụng các biện pháp dự phòng và điều trị quy ước, và bên cạnh đó còn bổ sung những biện pháp này bằng các khuyến nghị thích đáng về lượng nạp tối ưu của các vitamin và các chất dinh dưỡng khác, cùng với việc sử dụng những chất chỉnh phân tử khác. Hội Y học Chỉnh phân tử Hoa Kỳ (American Orthomolecular Medical Association), mà tôi là chủ tịch danh dự kể từ khi nó được thành lập mười năm trước, ngày nay có năm trăm thành viên.
Làm một thầy thuốc chỉnh phân tử không phải là điều dễ dàng. Lĩnh vực này chưa được công nhận là một chuyên khoa y học. Vì lý do nào đó, y học chỉnh phân tử dường như bị coi là một mối đe dọa đối với y học quy ước. Các thầy thuốc chỉnh phân tử bị giới y khoa quyền uy gây phiền nhiễu. Một người bạn của tôi, thực ra là đương kim chủ tịch của Hội Y học Chỉnh phân tử, đã bị thu hồi giấy phép hành nghề y ở California vào năm 1984 và phải chuyển sang một bang khác để có thể tiếp tục hành nghề y. Tôi đã ra làm chứng tại phiên điều trần của ông, nơi tôi bị viên phó chưởng lý Bang California hỏi một số câu khá ngớ ngẩn. Không một bệnh nhân nào của ông đưa ra cáo buộc chống lại ông; trái lại, các cáo buộc lại do một thầy thuốc khác đưa ra, người có lẽ cảm thấy rằng y học chỉnh phân tử cấu thành sự cạnh tranh không lành mạnh, ở chỗ bệnh nhân được lợi quá nhiều mà chi phí lại quá thấp (vitamin rẻ hơn nhiều so với thuốc). Theo cách hiểu của tôi thì cáo buộc chính chống lại người bạn của tôi là “Ông ấy đã không nỗ lực đủ nhiều để khiến nữ bệnh nhân ung thư đã quyết định không hóa trị phải thay đổi ý định.” Loại cớ này, với tôi, dường như cũng trắng trợn chẳng kém gì cái cớ mà Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã viện dẫn ba mươi ba năm trước để không cấp hộ chiếu cho tôi, không cho tôi tham dự một hội nghị chuyên đề quốc tế kéo dài hai ngày ở London do Hội Hoàng gia London (Royal Society of London) tổ chức để thảo luận về những khám phá của tôi về cấu trúc của protein. Lẽ ra tôi đã là diễn giả đầu tiên. Bộ Ngoại giao bảo rằng những “tuyên bố chống Cộng sản của tôi chưa đủ mạnh.”
Ở Chương 13 tôi có nhắc rằng trong khi nhiều người tin vitamin C giúp phòng ngừa cảm lạnh, thì hầu hết các thầy thuốc lại phủ nhận rằng vitamin này có nhiều giá trị. Những trải nghiệm của tôi sau khi xuất bản cuốn Vitamin C and the Common Cold (1970) đã xác nhận ý này và đã thôi thúc tôi cố gắng lý giải sự thật ấy.
Nhiều thầy thuốc đã viết thư cho tôi rằng họ thấy vitamin C có hiệu quả trong việc kiểm soát cảm lạnh thông thường và các nhiễm trùng khác của đường hô hấp, và họ dùng nó để điều trị cho chính mình, cho các thành viên trong gia đình, và cho bệnh nhân. Hàng trăm người không phải thầy thuốc cũng đã viết thư cho tôi về việc họ sử dụng vitamin C thành công, thường là trong nhiều năm. Tôi chỉ nhận được ba bốn lá thư từ những thầy thuốc tin chắc rằng vitamin C không có hiệu quả như vậy. Tuy nhiên, có khả năng con số nhỏ này gây ngộ nhận: những người hoài nghi không viết thư cho tôi.
Cortez F. Enloe, Jr., M.D., chủ bút tạp chí Nutrition Today (Dinh dưỡng Ngày nay), trong một bài xã luận (1971) về cuốn sách của tôi, có nhắc rằng ông không tìm thấy một thầy thuốc nào trong số bạn bè của ông hay trong số những người dự một cuộc họp của một hội y học cấp bang “chịu thừa nhận rằng họ thậm chí đã đọc cuốn sách.” Tôi phỏng đoán rằng hầu hết các thầy thuốc đều chưa đọc cả cuốn sách này lẫn bất kỳ bài báo nào mô tả các nghiên cứu có đối chứng đã được thực hiện về vitamin C trong mối liên quan với cảm lạnh thông thường. Tôi ước tính rằng cứ một nghìn thầy thuốc Hoa Kỳ thì có một người đã đọc bài báo năm 1942 của Cowan, Diehl và Baker, và cứ mười nghìn người thì có một người đã đọc bài báo năm 1961 của Ritzel. Quan điểm của tất cả mọi người, trừ một số ít ỏi, đều là quan điểm nghe lại của người khác.
Hầu hết các thầy thuốc đều dựa vào những phát biểu của các nhà chức trách. Tình huống này là điều không thể tránh khỏi. Thầy thuốc đang hành nghề thì quá bận rộn nên không thể nghiên cứu thấu đáo nguồn tài liệu gốc phức tạp và thường đồ sộ về mọi chủ đề y học. Chẳng hạn, một thầy thuốc ở Albuquerque, New Mexico, đã viết một lá thư cho tờ báo địa phương, nói rằng người ta đã chứng minh được vitamin C hoàn toàn không có giá trị gì trong việc bảo vệ chống lại cảm lạnh thông thường và các bệnh hô hấp khác. Tôi viết thư cho ông, hỏi ông đã dựa vào những công bố nào về các cuộc điều tra để đưa ra phát biểu đó. Ông trả lời rằng ông là một bác sĩ phụ khoa và biết rất ít về các bệnh nhiễm trùng; ông đã dựa phát biểu của mình trên báo vào thông tin do giáo sư cũ của ông, Tiến sĩ F. J. Stare, cung cấp qua điện thoại. Thầy thuốc này đã dựa vào một nhà chức trách mà, giống như nhiều thành viên của giới y khoa quyền uy, đã phớt lờ những bằng chứng ngày càng nhiều ủng hộ việc điều trị cảm lạnh thông thường bằng vitamin C.
Một số nhà điều tra y học, chính họ, cũng đã thất bại trong việc phân tích những quan sát của bản thân một cách đúng đắn và hành động phù hợp với các kết quả ấy. Cowan, Diehl và Baker (1942) là một ví dụ. Trong nghiên cứu cẩn thận của mình, ba thầy thuốc này đã quan sát thấy ở nhóm dùng axit ascorbic (so với nhóm dùng giả dược) tỷ lệ mắc cảm lạnh giảm 15 phần trăm và mức độ nặng giảm 19 phần trăm (Chương 12). Những mức giảm này có ý nghĩa thống kê, theo các quy tắc thường được giới thống kê chấp nhận, và lẽ ra không nên bị bỏ qua. Tuy nhiên, Cowan, Diehl và Baker đã bỏ qua các kết quả này. Trong phần tóm tắt bài báo của họ — phần duy nhất mà hầu hết độc giả của Journal of the American Medical Association (Tạp chí của Hội Y học Hoa Kỳ) sẽ đọc — họ đã không nhắc gì đến những sự kiện này. Phần tóm tắt của họ chỉ gồm một câu duy nhất: “Nghiên cứu có đối chứng này không cho thấy chỉ dấu nào rằng liều cao vitamin C hay liều cao các vitamin A, B₁, B₂, C, D và axit nicotinic có bất kỳ tác động quan trọng nào đến số lượng hay mức độ nặng của các nhiễm trùng đường hô hấp trên khi được cấp cho những người trẻ tuổi mà giả định là vốn đã có chế độ ăn tương đối đầy đủ.”
Theo ý kiến của tôi thì phát biểu này không đúng. Các đối tượng dùng vitamin C chỉ ốm vì cảm lạnh thông thường bằng 69 phần trăm so với các đối tượng dùng giả dược (đo bằng số ngày ốm trên mỗi đối tượng, tức tích của số lần cảm lạnh trên mỗi đối tượng nhân với số ngày ốm cho mỗi lần cảm lạnh). Đây chắc chắn là một tác động quan trọng, kết quả của việc tỷ lệ mắc giảm 15 phần trăm và mức độ nặng giảm 19 phần trăm. Cách giải thích duy nhất cho hành động của Cowan, Diehl và Baker khi viết phần tóm tắt theo lối này là họ không coi tác động quan sát được ấy là quan trọng; thế nhưng chắc chắn hầu hết mọi người sẽ thấy việc có thể cắt giảm gần một phần ba lượng ốm vì cảm lạnh thông thường là điều quan trọng. Trong một lá thư gửi tờ New York Times năm 1970, Diehl cho thấy rằng ông vẫn cho là ông và các cộng sự đã không thu được kết quả khả quan. Trong thư đáp lại lá thư đó, tôi đã chỉ ra rằng Tiến sĩ Diehl và tôi nhất trí về các sự kiện nhưng bất đồng về từ quan trọng, và rằng Cowan, Diehl và Baker đã phạm một sai lầm trong phán đoán khi bỏ sót, không nhắc trong phần tóm tắt của họ, cái sự kiện rằng họ đã quan sát thấy một tác động bảo vệ có ý nghĩa thống kê của axit ascorbic chống lại cảm lạnh thông thường.
Glazebrook và Thomson (1942) cũng đã diễn giải sai chính những quan sát của họ trong phần tóm tắt bài báo. Ở Chương 13 có nhắc rằng trong nghiên cứu chính của họ, với 435 đối tượng, họ nhận thấy tỷ lệ mắc cảm lạnh và viêm amidan ở nhóm dùng axit ascorbic thấp hơn 13 phần trăm so với nhóm đối chứng. Tỷ lệ mắc riêng cảm lạnh thấp hơn 17 phần trăm trong nghiên cứu chính này và thấp hơn 12 phần trăm trong một nghiên cứu thứ hai, với 150 đối tượng, trong đó họ cũng quan sát thấy tỷ lệ mắc cảm lạnh và viêm amidan thấp hơn 15 phần trăm. Những sự kiện này, trình bày trong thân bài báo, lại không được nhắc lại trong phần tóm tắt. Thay vào đó, phát biểu được đưa ra, trái với sự thật, rằng “tỷ lệ mắc cảm lạnh thông thường và viêm amidan ở hai nhóm là như nhau.” Việc thất bại tương tự trong việc trình bày, trong phần tóm tắt của các bài báo, một bản tường thuật đúng đắn về kết quả công trình của họ cũng có thể thấy trong các báo cáo của những nhà điều tra khác.
Hành động của các nhà điều tra này khi nói giảm nhẹ những quan sát của họ trong phần tóm tắt của các bài báo có lẽ là hệ quả của một thứ chủ nghĩa bảo thủ và sự dè dặt, cái cảm giác rằng người ta không nên tuyên bố đã quan sát được một tác động điều trị hay phòng ngừa trừ phi đó là một tác động lớn và hiển nhiên. Theo ý kiến của tôi thì những cảm giác kiểu này, dù có đáng ngưỡng mộ đến đâu, cũng không biện minh cho việc mô tả sai những quan sát của bản thân. Tác giả của một bài báo khoa học hay y học luôn phải nỗ lực vì sự chính xác. Nói giảm nhẹ phát hiện của mình cũng sai lầm chẳng kém gì việc thổi phồng chúng. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính các nhà điều tra ban đầu cũng phải chịu một phần trách nhiệm về việc giới y khoa quyền uy không nhận ra ý nghĩa của những quan sát ấy.
Thái độ của các nhà chức trách y học được minh họa qua phát biểu trong bài xã luận không ký tên trên tạp chí Nutrition Reviews (1967), được trích dẫn ở Chương 6, rằng không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy axit ascorbic có bất kỳ tác động bảo vệ hay điều trị nào lên diễn biến của cảm lạnh thông thường ở người khỏe mạnh. Việc nghiên cứu bằng chứng do tác giả khuyết danh ấy thực hiện rõ ràng là cẩu thả và hời hợt, ở chỗ, như đã nhắc ở Chương 13, ông đã báo cáo sai rằng Ritzel (1961) chỉ quan sát thấy số ngày ốm giảm 39 phần trăm và tỷ lệ mắc các triệu chứng giảm 36 phần trăm, trong khi các giá trị đúng lớn gần gấp đôi (lần lượt là 61 phần trăm và 65 phần trăm). Không có dấu hiệu nào trong bài xã luận cho thấy tác giả của nó đã có bất kỳ nỗ lực nào để phân tích bằng chứng trong các bài báo đã công bố nhằm tìm hiểu xem có thể đưa ra phát biểu rằng bằng chứng cho thấy, với ý nghĩa thống kê, axit ascorbic hoặc có hoặc không có tác động bảo vệ hay điều trị (với một độ lớn được giả định cho trước) hay không. Có vẻ không phải là không có khả năng rằng tác giả đã bị dẫn dắt sai lệch bởi những phát biểu tóm tắt không đúng của một số nhà điều tra, như đã nhắc ở trên, và bởi quan điểm y học đang thịnh hành, và rằng định kiến này đã dẫn đến sự hời hợt trong bài xã luận của ông.
Ngay cả sau khi cuốn Vitamin C and the Common Cold ra mắt (ngày 7 tháng 12 năm 1970), khi bằng chứng đã được trình bày rõ ràng để các nhà chức trách y học chú ý, họ vẫn tiếp tục phủ nhận sự tồn tại của bằng chứng. Sự phủ nhận này đôi khi đi kèm với những phát biểu mâu thuẫn hoặc diễn giải sai sự thật.
Trong số những nhà chức trách phủ nhận bằng chứng này có Tiến sĩ Charles C. Edwards, người đứng đầu Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA). Vào ngày 18 tháng 12 năm 1970, Ủy viên Edwards gọi điện cho tôi và đề nghị tôi đến Washington để dự một cuộc gặp với Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm về vấn đề này. Tôi đồng ý và đề nghị nên làm rõ một số câu hỏi qua thư từ trước cuộc gặp. Ngay vào ngày hôm sau, như được tường thuật trong một bản tin của hãng United Press International dưới bút danh của Craig A. Palmer, đăng trên nhiều tờ báo, ông triệu tập các phóng viên để nói với họ rằng việc đổ xô đến các hiệu thuốc mua vitamin C kể từ khi cuốn sách của tôi ra mắt là “lố bịch” và tuyên bố rằng “Không có bằng chứng khoa học nào và chưa hề có bất kỳ nghiên cứu có ý nghĩa nào cho thấy vitamin C có khả năng phòng ngừa hay chữa khỏi cảm lạnh.” Tôi đã viết nhiều lá thư cho Ủy viên Edwards, đề nghị ông giải thích làm thế nào ông có thể dung hòa phát biểu này với sự tồn tại của bằng chứng được tóm tắt trong cuốn sách của tôi, đặc biệt là các kết quả mà Ritzel thu được. Trong các thư trả lời, có kèm tài liệu của Allan L. Forbes, M.D., phó giám đốc Ban Dinh dưỡng của FDA, ông đưa ra một số nhận xét phê phán về công trình của Ritzel và của các nhà điều tra khác được trích dẫn trong sách của tôi. Tuy nhiên, ông kết luận rằng Ritzel “quả có trình bày những dữ liệu xem ra có ý nghĩa.” Khi việc “làm rõ” qua thư từ đã đi xa hết mức có thể, vào tháng 6 năm 1971, tôi viết thư cho Ủy viên Edwards rằng tôi sẽ đến Washington dự cuộc gặp ngay lập tức hoặc vào một ngày thuận tiện cho ông. Khi ấy ông rút lại lời mời, và cuộc gặp đã chẳng bao giờ diễn ra.
Bất chấp những phát hiện lặp đi lặp lại rằng việc tăng lượng nạp vitamin C quả thực mang lại một mức bảo vệ nhất định chống lại các bệnh hô hấp và những bệnh khác, các cơ quan y tế liên bang vẫn tiếp tục phủ nhận rằng nó có bất kỳ giá trị nào. Vào tháng 8 năm 1975, Viện Y tế Quốc gia (National Institutes of Health) đã phát hành một tập sách nhỏ (566-AMDD-975-B) chứa nhiều phát biểu không đúng: “Cơ thể chỉ sử dụng lượng axit ascorbic mà nó cần và thải phần còn lại qua nước tiểu!” “Những thắc mắc khác về tính an toàn của liều cao axit ascorbic bao gồm tác động khả dĩ của nó lên khả năng sinh sản và lên thai nhi, sự cản trở việc điều trị những bệnh nhân mà nước tiểu phải được giữ ở trạng thái kiềm…” “Các báo cáo gần đây còn chứng minh rằng liều cao vitamin C phá hủy một lượng đáng kể vitamin B₁₂ trong thức ăn.” Trong tập sách có phát biểu rằng việc giả định 45 miligam (mg) mỗi ngày là đủ để phòng bệnh và duy trì sức khỏe là điều hợp lý. Lần đề cập duy nhất đến bằng chứng là khẳng định rằng các nghiên cứu không có sức thuyết phục.
Tác giả của những cuốn sách tham khảo và giáo trình có thẩm quyền cũng đã thất bại trong việc đánh giá đúng đắn bằng chứng về vitamin C. Chẳng hạn, trong ấn bản thứ sáu của giáo trình Human Nutrition and Dietetics (Dinh dưỡng và Tiết thực học cho con người) của Davidson, Passmore, Brock và Truswell (1975), các tác giả viết: “Tuyên bố của Pauling (1970) rằng việc tiêu thụ 1 hoặc 2 g mỗi ngày thúc đẩy sức khỏe tối ưu và bảo vệ chống lại cảm lạnh thông thường dựa trên những bằng chứng mong manh.” Để hậu thuẫn cho phát biểu này, họ trích dẫn các kết luận của Cowan và cộng sự cũng như của Glazebrook và Thomson, nhưng lại chẳng nói gì về dữ liệu của những công trình đó. Họ hoàn toàn không nhắc đến công trình của Ritzel, mặc dù họ biết về nghiên cứu của Ritzel. Một trong các tác giả, Passmore, đã viết một bài điểm sách cho cuốn Vitamin C and the Common Cold, trong đó tôi có bàn về công trình ấy (Passmore, 1971). Vì sao những nhà chức trách trong lĩnh vực dinh dưỡng lại diễn giải sai và phớt lờ bằng chứng thì không rõ.
The Medical Letter, một ấn phẩm phi lợi nhuận về thuốc và liệu pháp dành cho thầy thuốc, do Drug and Therapeutic Information Inc. phát hành, đã đăng một bài điểm sách không ký tên, bất lợi, về cuốn Vitamin C and the Common Cold vào ngày 25 tháng 12 năm 1970. Tác giả khuyết danh nói rằng tôi đã dựa vào các nghiên cứu không có đối chứng và tiếp tục nói: “Một thử nghiệm có đối chứng về hiệu quả của vitamin C chống lại các nhiễm trùng đường hô hấp trên phải được tiến hành trong một thời gian dài và bao gồm nhiều trăm người mới cho ra kết quả có ý nghĩa. Chưa hề có một thử nghiệm nào như vậy được thực hiện.” Tôi đã viết một lá thư chỉ ra sự sai trái của phát biểu này và cho người viết bài báo thấy rằng riêng nghiên cứu của Cowan, Diehl và Baker, chẳng hạn, chắc chắn đáp ứng tất cả những điều kiện mà ông ta nêu ra. Tôi kết thúc bằng việc đề nghị The Medical Letter đăng lá thư của tôi. Việc đó đã không được thực hiện; thay vào đó, vào ngày 28 tháng 5 năm 1971, The Medical Letter đăng một bài báo thứ hai với nhan đề “Vitamin C — Các thử nghiệm có được đối chứng tốt không và liệu liều cao có an toàn không?” Bài báo này lập luận rằng nghiên cứu của Cowan, Diehl và Baker phải bị bác bỏ vì nó không phải mù đôi (mặc dù chính Cowan trong một lá thư gửi tôi đã nói rằng nó có thể được mô tả như vậy) và việc phân bổ các đối tượng vào nhóm dùng axit ascorbic và nhóm dùng giả dược đã không được ngẫu nhiên hóa (mặc dù các nhà điều tra có mô tả phương pháp ngẫu nhiên hóa của họ trong bài báo). Nghiên cứu của Ritzel thì bị công kích trên cơ sở vụn vặt rằng Ritzel đã không nêu tuổi và giới tính của các đối tượng. Thực ra, bài báo của ông cho thấy các đối tượng đều là nam sinh (trong một lá thư gửi tôi, Ritzel đã xác nhận rằng họ đều là nam giới và nói rằng họ ở độ tuổi mười lăm đến mười bảy). Bài báo cũng nêu lên vấn đề, mà không đưa ra bằng chứng nào, về khả năng hình thành sỏi thận.
Sự yếu kém của những lập luận do The Medical Letter và một số người phê bình khác đưa ra đã khiến một thầy thuốc Canada, Tiến sĩ Abram Hoffer, đưa ra nhận xét sau đây (1971): “[Những người phê bình này] sử dụng hai bộ logic. Trước khi họ sẵn sàng xem xét giả thuyết của Tiến sĩ Pauling, họ đòi hỏi bằng chứng thuộc loại chặt chẽ nhất. Nhưng khi lập luận chống lại quan điểm của ông, họ lại viện đến những bằng chứng mong manh nhất về độc tính của axit ascorbic.”
Các nhà văn viết cho đại chúng, dĩ nhiên, cũng bị dẫn dắt sai lệch bởi những phát biểu sai lầm có vẻ thẩm quyền như vậy. Trong một bài báo hoàn toàn thiếu tin cậy trên tờ Reader’s Digest (Ross, 1971) có câu: “Nhưng một số trong các bệnh nhân này [những người đã dùng 4.000 đến 10.000 mg vitamin C mỗi ngày] đã phát triển sỏi thận.” Yêu cầu của tôi đối với Reader’s Digest và tác giả bài báo cung cấp cho tôi các tham chiếu đến tài liệu y học về những bệnh nhân này đã không có kết quả. The Medical Letter không hề nhắc đến bất kỳ bệnh nhân nào mà ở họ axit ascorbic đã gây hình thành sỏi thận, mà chỉ nhắc đến một khả năng như vậy.
Trong nhiều năm, lập trường của Hội Y học Hoa Kỳ (American Medical Association), như được thể hiện đặc biệt qua Tiến sĩ Philip L. White, người phát ngôn chính của hội về dinh dưỡng và sức khỏe, là vitamin C không có giá trị gì trong việc phòng ngừa hay điều trị cảm lạnh thông thường hoặc các bệnh khác (White, 1975). Vào ngày 10 tháng 3 năm 1975, AMA ra một thông cáo cho báo chí với tiêu đề “Vitamin C sẽ không phòng ngừa hay chữa khỏi cảm lạnh thông thường.” Cơ sở cho phát biểu khá tiêu cực này được cho là hai bài báo công bố trong ngày hôm đó trên Journal of the American Medical Association (Karlowski và cộng sự, 1975; Dykes và Meier, 1975). Karlowski và các cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu về axit ascorbic trong mối liên quan với cảm lạnh thông thường, với các đối tượng là nhân viên của Viện Y tế Quốc gia. Bài báo của Dykes và Meier là một bài điểm lại một số nghiên cứu khác. Tuy nhiên, các kết quả mà Ritzel (1961), Sabiston và Radomski (1974), cùng một số nhà điều tra khác quan sát được lại không được trình bày. Bất chấp việc bao quát bằng chứng một cách thiếu sót, Dykes và Meier kết luận rằng các nghiên cứu dường như cho thấy vitamin C làm giảm lượng ốm đi kèm với cảm lạnh thông thường, mặc dù theo ý kiến của họ thì tác động bảo vệ của nó có thể không đủ lớn để có ý nghĩa lâm sàng. Như vậy, bài điểm bằng chứng của họ không hề cung cấp cơ sở nào cho phát biểu của AMA rằng vitamin C sẽ không phòng ngừa hay chữa khỏi cảm lạnh thông thường.
Để trình bày cho độc giả của Journal of the American Medical Association (JAMA) một bản tường thuật về toàn bộ bằng chứng, tôi đã lập tức chuẩn bị một bản phân tích thấu đáo nhưng ngắn gọn về mười ba thử nghiệm có đối chứng và nộp nó cho chủ bút vào ngày 19 tháng 3. Ông trả nó lại cho tôi hai lần, kèm theo các đề nghị chỉnh sửa nhỏ, mà tôi đã thực hiện. Cuối cùng, vào ngày 24 tháng 9, sáu tháng sau khi tôi nộp bài báo cho ông, ông viết thư cho tôi rằng nó không hoàn toàn thuyết phục và rằng ông đã quyết định bác bỏ bài báo và không đăng nó trên JAMA. Bài báo sau đó được đăng trên Medical Tribune (Pauling, 1976b).
Theo ý kiến của tôi thì việc chủ bút của JAMA (hay của bất kỳ tạp chí nào khác) theo đuổi chính sách chỉ đăng những bài báo ủng hộ một phía duy nhất của một vấn đề khoa học hoặc y học, và còn cản trở việc thảo luận thích đáng vấn đề bằng cách giữ một bài báo đã được nộp cho ông suốt nửa năm — khoảng thời gian mà, theo lệ thường được chấp nhận, bài báo không thể được nộp cho một tạp chí khác — là điều hết sức không đúng đắn.
Đây không phải là ví dụ duy nhất về kiểu hành động này của chủ bút JAMA. Bài báo của Herbert và Jacobs, đưa ra tuyên bố rằng vitamin C uống cùng bữa ăn sẽ phá hủy vitamin B₁₂ trong thức ăn và có thể gây ra một căn bệnh nghiêm trọng tương tự thiếu máu ác tính, đã được đăng trên JAMA (Chương 9). Khi Newmark và các cộng sự phát hiện rằng tuyên bố ấy không thể được chứng minh, và rằng trên thực tế vitamin C không phá hủy vitamin B₁₂ trong thức ăn, họ đã gửi bài báo của mình cho chủ bút JAMA, nơi rõ ràng đáng lẽ là chỗ để đăng đính chính. Ông giữ nó suốt nửa năm, rồi từ chối đăng, qua đó làm chậm việc nó được đăng trên một tạp chí khác và ngăn nhiều độc giả của bài báo gốc của Herbert và Jacobs biết được rằng các kết quả của họ là không đúng. Những hành động này gợi ý rằng AMA hoạt động nhằm bảo vệ các thầy thuốc Hoa Kỳ khỏi những thông tin đi ngược lại các định kiến của chính mình. Bằng chứng cho thấy AMA có thành kiến với vitamin C.
Chủ bút của JAMA và các cố vấn của ông có một nhiệm vụ khó khăn phải xử lý. Y học là một chủ đề cực kỳ phức tạp. Nó dựa, ở mức độ lớn, vào các ngành khoa học — vật lý, hóa lý, hóa hữu cơ, hóa sinh, sinh học phân tử, vi khuẩn học, virus học, di truyền học, dược lý học và những ngành khác — nhưng bản thân nó thì chưa trở thành một khoa học. Không ai có thể biết thấu đáo hơn một phần nhỏ của y học. Hơn nữa, nhiều thầy thuốc bị hạn chế trong kiến thức khoa học và chưa từng có kinh nghiệm trong lĩnh vực khám phá khoa học. Họ không biết cách đón nhận và cách đánh giá những ý tưởng mới.
Văn liệu khoa học và y học giờ đây đã trở nên đồ sộ đến mức một chủ bút có thể hình thành quan điểm của mình chỉ trên cơ sở một phần nhỏ của bằng chứng hiện có. Chủ bút của JAMA có lẽ đã quá bận để xem xét thấu đáo vấn đề vitamin C. Vị chủ bút lừng danh của một tạp chí y học khác, Modern Medicine (Y học Hiện đại), Tiến sĩ Irvine H. Page, đã đứng trên nền tảng không vững khi ông viết một bài xã luận nhan đề “Liệu sự thật và lối hành xử ngay thẳng có đang lỗi thời?” cho số ra ngày 15 tháng 1 năm 1976. Page đã viết như sau: “Khi ngay cả những nhà điều tra có trách nhiệm cũng dùng những thủ đoạn ám muội để cổ vũ cho ‘những khám phá’ của họ, thì chẳng có gì lạ khi công chúng mất niềm tin vào giới khoa học chính thống.” Ông tiếp tục viết: “Với tôi, ví dụ bi thảm nhất về sự tự lừa dối là trường hợp Tiến sĩ Linus Pauling — người hai lần đoạt giải Nobel — đề xuất và lợi dụng việc dùng những liều khổng lồ vitamin C cho cảm lạnh thông thường.”
Sau khi trao đổi thư từ với tôi, Page đã rút lại những phát biểu của ông về tôi trong số ra ngày 1 tháng 7 năm 1976 của Modern Medicine. Ở đó ông viết:
Tôi rút lại phát biểu này và lấy làm tiếc về việc sử dụng vô căn cứ những từ ngữ mang tính miệt thị, rằng do một sự hiểu lầm tôi đã tuyên bố một cách không đúng đắn rằng Tiến sĩ Pauling đòi hỏi những người phê bình ông phải chứng minh ông sai. Tiến sĩ Pauling trên thực tế, trong cuốn sách năm 1970 Vitamin C and the Common Cold và trong các bài báo của mình, đã trình bày một bản tóm tắt hợp lý về những báo cáo đã công bố của một số nghiên cứu có đối chứng đã được thực hiện, cùng với phần thảo luận và các kết luận của riêng ông. Ông đã không đòi hỏi những người phê bình phải chứng minh ông sai, mặc dù ông có thúc giục họ xem xét bằng chứng. … Việc tạp chí này đánh giá cao Tiến sĩ Pauling được thể hiện qua hành động của chúng tôi khi trao cho ông Giải Thành tựu Xuất sắc của Modern Medicine vào năm 1963 cho khám phá của ông rằng thiếu máu hồng cầu hình liềm là một căn bệnh phân tử.
Page cũng nói rằng các thầy thuốc nên cung cấp thông tin đáng tin cậy về những chủ đề y tế công cộng quan trọng như dinh dưỡng (bao gồm việc dùng vitamin C), thuốc, tiêm chủng và lối sống, và rằng bằng chính cách hành xử của mình, họ nên giành được và giữ được sự tôn trọng cùng niềm tin của những người mà họ hy vọng sẽ mang lại lợi ích thông qua y học phòng ngừa. Ngoài ra, trong số ra ngày 1 tháng 7 năm 1976, Modern Medicine đã đăng một bài báo của tôi về lập luận ủng hộ vitamin C trong việc duy trì sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật.
Modern Medicine dường như đang phát triển một thái độ cởi mở hơn đối với những tiến bộ gần đây trong dinh dưỡng và y học phòng ngừa, đi theo sự dẫn dắt của một tạp chí y học khác, Medical Tribune, vốn qua nhiều năm vẫn liên tục không bị vướng vào thiên kiến kiểu này. Tôi hy vọng rằng theo thời gian, một số cải thiện sẽ trở nên rõ rệt trong các ấn phẩm của Hội Y học Hoa Kỳ.
Các thầy thuốc phải thận trọng trong việc hành nghề y, nhưng nghề y cần cởi mở với những ý tưởng mới, nếu y học muốn tiến bộ. Một ý tưởng mới, rằng những lượng lớn vitamin có thể giúp kiểm soát bệnh tật, đã được bàn đến khoảng năm mươi năm trước nhưng đã không được phát triển đúng đắn. Claus W. Jungeblut, thầy thuốc đầu tiên chứng minh rằng axit ascorbic có thể bất hoạt virus và mang lại một mức bảo vệ nhất định chống lại các bệnh do virus (Chương 13), đã trở nên nản lòng vì sự đón nhận tệ hại dành cho ý tưởng của ông và đã chuyển sang một lĩnh vực y học khác.
Hành động gần đây nhất và trắng trợn nhất của y giới có tổ chức chống lại khoa học dinh dưỡng mới mẻ và sự an lành của người dân Hoa Kỳ là hành động do Mayo Clinic gây ra. Hành động này, tức việc công bố một bài báo gian dối trong số ra ngày 17 tháng 1 năm 1985 của New England Journal of Medicine, đã được nhắc ở Chương 19. Tác giả chính của bài báo, Tiến sĩ Charles G. Moertel, và năm cộng sự của ông, đã cố tình trình bày sai lệch cuộc điều tra của họ về giá trị của liều cao vitamin C đối với các bệnh nhân ung thư di căn của đại tràng hoặc trực tràng như là một sự lặp lại và kiểm chứng công trình của Tiến sĩ Ewan Cameron cùng các cộng sự của ông (trong đó có tôi). Họ kết luận rằng liều cao vitamin C không có giá trị gì đối với các bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn. Trên thực tế (mặc dù họ đã giấu thông tin này), họ cung cấp vitamin C cho bệnh nhân theo một cách hoàn toàn khác với cách mà Cameron đã làm. Các bệnh nhân của Cameron nhận liều cao vitamin C từ lúc bắt đầu điều trị cho đến cuối đời họ hoặc cho đến thời điểm hiện tại, lâu tới mười hai hoặc mười ba năm, trong khi các bệnh nhân của Mayo Clinic chỉ nhận một lượng nhỏ hơn trong một thời gian ngắn. Cameron và tôi đã từng cảnh báo rằng việc đột ngột ngừng liều cao vitamin C có thể nguy hiểm. Lời cảnh báo này đã bị các bác sĩ của Mayo Clinic phớt lờ.
Viện Ung thư Quốc gia (National Cancer Institute) cũng là một nạn nhân của sự gian dối của Mayo Clinic. Các quan chức của viện đã bị dẫn dắt sai lệch để nghĩ rằng Mayo Clinic đã lặp lại công trình của Cameron. Bằng việc đưa ra một tuyên bố công khai về điều này, họ đã đem uy tín của mình cho mượn vào nỗ lực giả mạo ấy và làm trầm trọng thêm sai lầm của nó.
Các bác sĩ của Mayo Clinic đã từ chối thảo luận vấn đề này với tôi. Tôi kết luận rằng họ không phải là những nhà khoa học, không tận tụy với việc đi tìm chân lý. Tôi phỏng đoán rằng họ xấu hổ về bản thân đến mức họ muốn vấn đề này bị lãng quên đi. Mayo Clinic từng có một danh tiếng lớn. Sự việc này, với tôi, cho thấy danh tiếng ấy không còn xứng đáng nữa. Tôi sẽ nhắc lại Mayo Clinic ở chương sau, khi so sánh vitamin và thuốc.
Vào năm 1985, Hội Y học Hoa Kỳ, Hội Ung thư Hoa Kỳ (American Cancer Society) và các chủ bút của những tạp chí y học hàng đầu vẫn chưa công nhận rằng việc bổ sung vitamin với lượng tối ưu có giá trị. Tuy nhiên, có những dấu hiệu cho thấy một sự thay đổi trong thái độ của họ có thể đến trong vài năm tới. Các thầy thuốc cá nhân, với số lượng lớn, đã chuyển từ chỗ chống đối việc nạp vitamin liều cao sang chỗ sẵn lòng xem xét ý tưởng rằng chúng có giá trị. Tôi rất ấn tượng bởi số lượng những người viết thư hoặc gọi điện cho tôi hay một trong các cộng sự của tôi, đặc biệt là Tiến sĩ Ewan Cameron, để xin thêm thông tin. Ngoài ra, nhiều người đã viết thư cho tôi về phản ứng của thầy thuốc của họ khi ông ấy (hoặc, hiếm khi hơn, bà ấy) biết được rằng bệnh nhân đã uống 5 hoặc 10 gam (g) vitamin C mỗi ngày. Một thập kỷ trước, bệnh nhân thường kiêng không nói cho thầy thuốc về lượng nạp này. Khi thầy thuốc biết được, ông ấy sẽ nói: “Anh (chị) đã nghe lời Linus Pauling — cái tay lang băm ấy!” hoặc đôi khi đưa ra một phát biểu mạnh mẽ hơn, thô tục hơn. Trong ba bốn năm vừa qua, bệnh nhân đã báo lại với tôi rằng thầy thuốc nói: “Có thể không phải là nhờ vitamin C, nhưng cứ tiếp tục uống đi!” hoặc, nếu bệnh nhân chưa tiết lộ lượng nạp của mình, “Tôi không biết anh (chị) đã làm gì, nhưng cứ tiếp tục làm như vậy đi.”
Hình (trang 235): Tranh biếm họa. (Một nhân vật phát biểu, bằng giọng méo mó được ghi lại theo lối nhại: đại ý rằng ban đầu mình đã bắt đầu theo “cơ học”, nhưng đâu đó dọc đường thì rẽ sai hướng.)
Một chục năm trước, tôi là kẻ không được hoan nghênh (persona non grata) tại các trường y. Trong vài năm vừa qua, tôi đã nhiều lần diễn thuyết về vitamin tại các trường y và tại các cuộc họp y học — mười lần trong năm 1984. Chẳng hạn, vào ngày 14 tháng 11 năm 1984, tôi đã nói về giá trị của khoa học dinh dưỡng trong y học trước một cử tọa đông đảo tại Trường Y Jefferson (Jefferson Medical College), Philadelphia, theo lời mời của Khoa Tiêu hóa và Chương trình Dinh dưỡng Jefferson. Sau bài giảng của tôi, một trong các giáo sư y khoa nói với tôi: “Cho đến hai tiếng đồng hồ trước, tôi vẫn tin rằng vitamin ở những lượng lớn hơn các mức RDA thì không có giá trị gì. Giờ đây tôi đã đổi ý, bởi những sự kiện mà ông trình bày.”
Cũng trong năm 1984, tôi đã có hai mươi lăm buổi nói chuyện trước các nhóm về sức khỏe hoặc các nhóm người ngoài ngành khác, hoặc trên các chương trình truyền hình, phát thanh. Không còn nghi ngờ gì nữa, công chúng có sự quan tâm lớn đến việc cải thiện sức khỏe bằng lượng nạp tối ưu vitamin C và các chất dinh dưỡng khác. Vào tháng 11, tôi xuất hiện trên chương trình truyền hình buổi tối ở Toronto có tên Speaking Out. Khán giả có thể gọi điện đến đài và bỏ phiếu cho một câu hỏi về vitamin. Đài đã nhận được 25.229 cuộc gọi điện thoại trong suốt chương trình. Tôi được cho biết rằng đây là phản hồi đông đảo nhất của công chúng đối với bất kỳ chương trình nào trong lịch sử của đài.
Sự quan tâm to lớn này của công chúng đối với việc cải thiện dinh dưỡng giờ đây đang tạo ảnh hưởng lên giới y khoa quyền uy. Tôi tin rằng đã đến lúc không chỉ để y học chỉnh phân tử được công nhận là một lĩnh vực chuyên khoa, mà còn để tất cả các thầy thuốc và bác sĩ phẫu thuật đưa những cải thiện về dinh dưỡng vào trong các quy trình giúp đỡ bệnh nhân của mình.